Self harm là gì?

Self harm là hội chứng ngược đãi bản thân hay còn gọi là tự hại. Đây là một căn bệnh dễ mắc phải với những người bị suy sụp về mặt tinh thần. Người bệnh luôn có khuynh hướng làm hại chính bản thân mình. Cùng chúng tôi tìm hiểu rõ thông tin về bệnh self harm là gì qua bài viết này nhé!

>>Tham khảo: Hiện tượng trầm cảm tự kỷ

Self harm (Tự hại) là gì?

Self harm (Tự hại) là gì? 1

Self harm hay còn gọi là tự hại có nghĩa là tự mình làm tổn thương chính mình. Tự làm hại bản thân có thể là một cách để đối phó với những nỗi đau quá mức về tinh thần và nỗi đau cảm xúc. Nó có thể giúp bạn bày tỏ cảm xúc mà bạn không thể nói thành lời, làm bạn mất tập trung vào cuộc sống hoặc giải phóng nỗi đau cảm xúc.

Tự làm hại bản thân thường bắt đầu như một cách để giảm bớt áp lực tích tụ từ những suy nghĩ và cảm xúc đau khổ. Điều này có thể giúp giảm đau tạm thời khỏi nỗi đau cảm xúc mà người đó đang cảm nhận. Điều quan trọng cần biết là sự cứu trợ này chỉ là tạm thời vì những lý do cơ bản vẫn còn. Ngay sau đó, cảm giác tội lỗi và xấu hổ có thể theo sau mãi mãi.

Self harm bao gồm tất cả những điều mà bạn cố ý để gây thương tích cho mình. Những hành động đó có thể kể đến như:

  • Cắt hoặc làm trầy xước da nghiêm trọng
  • Tự thiêu cháy chính mình
  • Đánh mình hoặc đập đầu gây tổn thương
  • Đấm mọi thứ hoặc ném cơ thể của bạn vào tường và các vật cứng
  • Cố ý ngăn vết thương mau lành
  • Nuốt chất độc hoặc đồ vật không phù hợp

Tự làm hại bản thân cũng có thể bao gồm những hành động làm tổn thương bản thân hoặc khiến bản thân gặp nguy hiểm, chẳng hạn như: lái xe liều lĩnh, uống rượu say, uống quá nhiều thuốc hoặc quan hệ tình dục không an toàn.

Bất kỳ ai cũng có thể bị self harm. Nhưng một số người có khả năng tự làm hại mình hơn những người khác vì một số lý do trong cuộc sống của họ như nơi họ sống, những điều đang xảy ra với bạn bè, gia đình hoặc ở trường hoặc kết hợp những thứ này. Điều này có nghĩa là một số người có nguy cơ tự làm hại mình hơn những người khác. Một số yếu tố nguy cơ gồm:

  • Người bị rối loạn tâm thần, trầm cảm, lo âu, rối loạn nhân cách
  • Là những đứa trẻ bị bỏ rơi, không được chăm sóc

Điều quan trọng bạn cần nhớ là mặc dù đây là những yếu tố rủi ro khiến người ta tự làm hại bản thân mình hơn nhưng không có nghĩa là tất cả những người ở hoàn cảnh đó đều sẽ tự làm hại mình. Dưới đây là chi tiết những lý do gây self harm.

Tại sao lại bị tự làm hại chính mình?

Tự làm hại bản thân không phải là một bệnh tâm thần, mà là một hành vi cho thấy thiếu kỹ năng đối phó. Một số bệnh có liên quan đến nó, bao gồm rối loạn nhân cách, trầm cảm, rối loạn ăn uống, lo lắng hoặc rối loạn đau khổ sau chấn thương.

Tự hại thường gặp nhất ở những đối tượng thiếu niên và thanh niên. Những người có nguy cơ cao nhất là những người đã trải qua chấn thương, bị bỏ bê hoặc lạm dụng. Một người say rượu hoặc sử dụng ma túy cũng có nguy cơ tự gây thương tích cao hơn, vì rượu và ma túy sẽ khiến cho người ta tự kiểm soát thấp hơn.

Mỗi người đều có thể gặp phải những lo lắng, áp lực, căng thẳng khác nhau. Một số người biết quản lý những rắc rối này họ sẽ nói chuyện với bạn bè và gia đình để được đưa ra những lời khuyên hữu ích. Còn với những người không kiểm soát được thì sẽ rất dễ khiến chúng ta đau khổ, tức giận hoặc buồn bã, áp lực có thể tích tụ và trở nên không thể chịu đựng được.

Theo nghiên cứu thì một số lý do dưới đây có thể được coi là nguyên nhân khiến cho bạn tự hại chính mình:

  • Những khó khăn về tài chính, khó khăn, áp lực trong công việc không được giải tỏa
  • Tranh cãi với bạn bè hoặc người thân yêu
  • Áp lực học đường
  • Bị bắt nạt
  • Phiền muộn
  • Lòng tự trọng thấp
  • Chuyển đổi và thay đổi, chẳng hạn như thay đổi trường học
  • Sử dụng rượu và ma túy và các chất kích thích

Sự thôi thúc làm tổn thương chính mình có thể bắt đầu với sự tức giận, thất vọng hoặc đau đớn quá mức. Khi một người không chắc chắn làm thế nào để đối phó với cảm xúc, hoặc học được khi còn nhỏ để che giấu cảm xúc, việc tự làm hại bản thân có thể cảm thấy như một sự giải thoát. Đôi khi, làm tổn thương chính bạn kích thích endorphin của cơ thể hoặc hormone gây đau đớn, do đó làm tăng tâm trạng của họ. Hoặc nếu một người không cảm thấy nhiều cảm xúc sẽ có thể tự gây đau đớn cho mình để cảm nhận một thứ gì đó thật sự thật để thay thế cảm giác tê liệt.

Khi mà tự làm tổn thương chính mình sẽ khiến bạn có thể cảm thấy xấu hổ và tội lỗi. Nếu sự xấu hổ dẫn đến cảm giác tiêu cực dữ dội, người đó có thể lại tự làm tổn thương mình. Hành vi này có thể trở thành một chu kỳ nguy hiểm và một thói quen lâu dài.

Tự làm hại bản thân không giống như cố gắng tự tử. Tuy nhiên, đó là một triệu chứng của nỗi đau tình cảm nên được thực hiện nghiêm túc. Những ai tự làm tổn thương mình sẽ rất dễ dẫn đến nguy cơ có ý định tự tử.

>> Đọc thêm: So sánh trầm cẩm tự sát

Cách điều trị và đối phó với self harm

Cách điều trị và đối phó với self harm 1

Nếu tự làm tổn thương chính mình có thể làm bạn cảm thấy khá hơn, tại sao nên dừng lại? Dù cho tự hại có thể mang lại cảm giác nhẹ nhõm nhưng nó chỉ là cách giảm tạm thời và nó cũng có cái giá riêng của nó. Thực tế, nhìn một cách dài hạn, nó tạo ra khá nhiều vấn đề như:

  • Sự nhẹ nhõm chỉ kéo dài ngắn ngủi, và ngay sau đó là những cảm xúc như sự hổ thẹn và tội lỗi.
  • Nó có thể gây ra những ảnh hưởng tệ hại đến các mối quan hệ với bạn bè và gia đình.
  • Bạn có thể làm bản thân bị thương trầm trọng ngoài dự định. Rất dễ đánh giá sai tính nghiêm trọng của một vết cắt hoặc bạn có thể sẽ bị nhiễm trùng. Bạn có nguy cơ sẽ gặp phải những vấn đề lớn hơn.
  • Nếu không học được cách lành mạnh hơn để đối diện với nỗi đau tinh thần, nguy cơ mắc trầm cảm, nghiện rượu bia và ma túy, và tự sát sẽ cao hơn.

Có những phương pháp điều trị hiệu quả để tự làm hại bản thân có thể lại tự chủ một lần nữa. Tâm lý trị liệu là phương pháp quan trọng trong quá trình điều trị. Quản lý cảm xúc rất cần thiết với người tự làm hại bản thân.

Bước đầu tiên để nhận được sự giúp đỡ là nói chuyện với một người thân, bạn bè hoặc chuyên gia y tế. Bác sĩ sẽ khảo sát bạn bằng những câu hỏi về sức khỏe, lịch sử cuộc sống và bất kỳ hành vi gây thương tích nào trong quá khứ và hiện tại. Cuộc trò chuyện này, được gọi là một cuộc phỏng vấn chẩn đoán, có thể kéo dài một giờ hoặc hơn. Các bác sĩ không thể sử dụng xét nghiệm máu hoặc kiểm tra thể chất để chẩn đoán bệnh tâm thần, vì vậy họ dựa vào thông tin chi tiết từ cá nhân. Bạn càng cung cấp nhiều thông tin thì càng giúp bác sĩ chẩn đoán và đưa ra hướng điều trị phù hợp.

Bác sĩ cũng sẽ đề nghị trị liệu để giúp bạn học các hành vi mới, nếu tự gây thương tích đã trở thành thói quen. Một số loại trị liệu có thể giúp bệnh thuyên giảm như:

  • Liệu pháp tâm lý học tập trung vào khám phá những trải nghiệm và cảm xúc trong quá khứ
  • Trị liệu hành vi nhận thức tập trung vào việc nhận ra các kiểu suy nghĩ tiêu cực và tăng kỹ năng đối phó
  • Liệu pháp hành vi biện chứng có thể giúp một người học các phương pháp đối phó tích cực

Nếu các triệu chứng của bạn quá nặng hoặc mức độ tổn thương nghiêm trọng thì bạn cần ở lại bệnh viện để được bác sĩ theo dõi cũng như điều trị bệnh hiệu quả hơn.

Bạn có thể quan tâm:

Viết bình luận
1
Xin chào! Vững Trí có thể giúp gì cho bạn không?